Ăn ổi để ngừa bệnh
Nhiều người cho rằng ăn ổi tốt
hơn ăn cam vì ổi chứa nhiều vitamin C hơn quả cam. Ổi còn là nguồn
phong phú vitamin A, chất sắt, pectin, một loại enzyme giúp cải thiện
hệ tiêu hóa.
Theo
các chuyên gia, khi ổi chín nên ăn ngay vì chúng có giá trị dinh dưỡng
cao nhất chỉ trong khoảng hai ngày. Chiết xuất từ lá ổi có thể giúp
điều trị các vấn đề liên quan đến dạ dày - ruột vì ổi chứa nhiều chất
quercetin và flavanoid. Chính vì tác dụng này mà người ta đã bào chế ra
thuốc trị tiêu chảy từ lá cây ổi. Chiết xuất từ vỏ cây ổi cũng được xem
có tác dụng bảo vệ tim và cải thiện chức năng tim.
Gần
đây, người ta đã dùng chất chiết xuất từ vỏ cây ổi để chữa chứng rối
loạn nhịp tim ở Nam Mỹ. Ổi giúp kiểm soát huyết áp, giảm cholesterol,
chống tiêu chảy và một số bệnh ung thư.
Về thành phần hóa học, quả và lá đều chứa Sitosterol, Quereetin,
Guaijaverin, Leucocyanidin và Avicularin; lá còn có Volatile oil,
Eugenol; quả chín chứa nhiều vitamin C và các Polysaccharide như
Fructose, Xylose, Glucose, Rhamnose, Galactose...; rễ có chứa Arjunolic
acid; vỏ rễ chứa Tanine và Organic acid.
Nghiên cứu dược lý cho thấy dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có
khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng.
Một số công dụng cụ thể của cây ổi Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng sáp, tính ấm, có công dụng tiêu thũng giải độc, thu sáp chỉ huyết. Quả ổi vị ngọt hơi chua sáp, tính ấm, có công dụng thu liễm, kiện vị cố tràng. Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa những chứng bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, thấp độc, thấp chẩn, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết... - Viêm dạ dày, ruột cấp và mạn tính: (1) Lá ổi non sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 6g, mỗi ngày 2 lần; (2) Lá ổi 1 nắm, gừng tươi 6-9g, muối ăn một ít, tất cả vò nát, sao chín rồi sắc uống; (3) Quả ổi, xích địa lợi và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15g, sắc uống.
- Cửu lỵ:
(1) Quả ổi khô 2-3 quả, thái phiến, sắc uống;
(2) Lá ổi tươi 30-60g sắc uống;
(3) Với lỵ trực khuẩn cấp và mạn tính, dùng lá ổi 30g, phượng vĩ thảo
30g, cam thảo 3g, sắc với 1.000ml nước, cô lại còn 500ml, mỗi ngày uống
2 lần, mỗi lần 50ml.
- Trẻ em tiêu hóa không tốt: Lá ổi 30g, hồng căn thảo (tây thảo) 30g, hồng trà 10-12g, gạo tẻ sao
thơm 15-30g, sắc với 1.000ml nước, cô lại còn 500ml, cho thêm một chút
đường trắng và muối ăn. Uống mỗi ngày: từ 1-6 tháng tuổi 250ml, 1 tuổi
trở lên 500ml, chia uống vài lần trong ngày.
- Tiêu chảy: (1) Búp ổi hoặc vỏ dộp ổi 20g,
búp vối 12g, búp hoặc nụ sim 12g, búp chè 12g, gừng tươi 12g, rốn chuối
tiêu 20g, hạt cau già 12g, sắc đặc uống;
(2) Búp ổi 12g, vỏ dộp ổi 8g, gừng tươi 2g, tô mộc 8g, sắc với 200ml
nước, cô còn 100ml. Trẻ 2-5 tuổi mỗi lần uống 5-10ml, cách 2 giờ uống 1
lần. Người lớn mỗi lần uống 20-30ml, mỗi ngày 2-3 lần;
(3) Với tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi sao 12g, gừng tươi 8g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500ml nước, cô còn 200ml, chia uống 2 lần trong ngày; hoặc búp ổi hay lá ổi non 20g, vỏ quýt khô 10g, gừng tươi 10g nướng chín, sắc với 1 bát nước, cô còn nửa bát, uống nóng; hoặc búp ổi 60g, nụ sim 8g, riềng 20g, ba thứ sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5g với nước ấm; hoặc búp ổi 15g, trần bì 15g và hoắc hương 18g, sắc uống; (4) Với tiêu chảy do nóng (thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20g sao vàng, lá chè tươi 15g sao vàng, nụ sim 10g, trần bì 10g, củ sắn dây 10g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi lần uống 10g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn; hoặc vỏ dộp ổi sao vàng 20g, vỏ duối sao vàng 20g, vỏ quýt sao vàng 20g, bông mã đề sao vàng 20g, sắc đặc uống nóng; hoặc bột vỏ dộp ổi 80 phần, bột gạch non 20 phần, trộn đều, luyện thành viên, mỗi lần uống 10g, mỗi ngày uống 2 lần;
- Thổ tả: Lá ổi, lá sim, lá vối và hoắc hương lượng bằng nhau, sắc hoặc hãm uống.
- Băng huyết: Quả ổi khô sao cháy tồn tính, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9g pha với nước ấm.
- Tiểu đường:
(1) Quả ổi 250g, rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày,
(2) Lá ổi khô 15-30g sắc uống hàng ngày.
- Ðau răng: Vỏ rễ cây ổi sắc với dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày.
- Thoát giang (sa trực tràng): Lá ổi tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước ngâm rửa hậu môn. Có thể kết hợp dùng quả ổi khô sắc uống.
- Mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng tổn thương.
- Vết thương do trật đả: Dùng lá ổi tươi rửa sạch, giã nát đắp vào nơi bị thương.
- Giải ngộ độc ba đậu: Quả ổi khô, bạch truật sao hoàng thổ, vỏ cây ổi, mỗi thứ 10g sắc với một bát rưỡi nước, cô lại còn 1 bát, chia uống vài lần.
Ðiều
cần lưu ý là với những người đang bị táo bón hoặc bị tả lỵ có tích trệ
chưa được giải quyết, không nên dùng các bài thuốc chế từ những bộ phận
của cây ổi. [ Trở về ]
Các tin khác
| Tâm sự |
Chồng “yêu” không giỏi, tôi phải làm sao?